Với hơn 3260 km bờ biển, Việt Nam có tiềm năng rất lớn trong việc phát triển vận tải đường biển và các dịch vụ khác liên quan đến biển
Dọc bờ biển nước ta có khoảng 100 địa điểm có thể xây dựng được cảng biển. Từ các cảng Việt Nam có thể đi qua eo biển Malắcca để đi đến Ấn Độ Dương, Trung Đông, châu Âu, châu Phi; qua eo biển Ba-si có thể đi vào Thái Bình Dương đến các cảng của Nhật Bản, Nga, Nam Mỹ và Bắc Mỹ;  đi qua các eo biển giữa Philippin, Inđônêxia, Xinhgapo đến Ôxtrâylia và Niu Di Lân…. Theo dự đoán của các chuyên gia sẽ có 2/3 số lượng hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu  của thế giới phải đi qua  hải phận Đông trong 5-10 năm tới. Nhu cầu  vận tải hàng hoá đóng container trong khu vực châu Á có thể tăng lên đáng kể. Biển Đông cũng sẽ là nơi thu hút với số lượng lớn các nhà kinh doanh và khách du lịch đi bằng tàu biển. Thêm vào đó, vùng trời trên biển Đông cũng có tiềm năng để xây dựng các tuyến đường hàng không. Đó là một  cơ hội rất lớn để Việt Nam phát triển  vận chuyển hàng hoá trên biển đem lại nguồn thu đáng kể phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện hóa cho đất nước .

Hiện nay Việt Nam có tổng cộng 114 cảng biển. Các cảng lớn  tập trung  ở Sài Gòn, Hải Phòng và Quảng Ninh. Các cảng này  đảm nhận  trên 60% tổng lượng hàng hóa vận chuyển  bằng đường biển cả nước. Ngành vận chuyển hàng hóa bằng đường biển Việt Nam  liên tiếp phát triển hơn trong một thập niên qua. Thành tích này vẫn chưa tương thích  với tiềm năng của ngành vận tải đường biển của nước ta. Việt Nam vẫn chưa là nước có ngành vận tải đường biển phát triển cao trong khu vực. Trong 5 năm 2001-2005, đội tàu biển Việt Nam đã tăng thêm 366 tàu với  tải trọng  1.269.001T, tăng 50,97% về số lượng và 68,72% về trọng tải. Đến năm 2010 tổng trọng tải  đội tàu biển Việt Nam là 3.040.374 DWT và đến năm 2020 sẽ là 4.711.180 DWT. Trong đó, tổng Công ty hàng hải Việt Nam (VinaLines) là doanh nghiệp vận tải  biển lớn nhất chiếm tới 60% cả nước. Đội tàu của VinaLines có 151 chiếc với tổng  trọng tải  2,68 triệu DWT, đứng thứ 87 trên thế giới. Hiện nay, Việt Nam có khoảng 1.600 tàu biển,  trọng tải  6,2 triệu tấn, đứng thứ 31 trên thế giới

 

Việt Nam vẫn chưa có những cảng lớn, sâu đủ sức chứa những tàu có  trọng tải lớn. Chúng ta cũng thiếu những cảng biển lớn với dịch vụ hậu cần quy mô, thiếu những xưởng đóng và sửa chữa tàu biển quy mô, hệ thống những cơ sở nghiên cứu khoa học công nghệ biển, các cơ sở dự báo thiên tai từ biển ... Ngoài ra, cảng biển Việt Nam còn có một số điểm hạn chế và thách thức do nhân tố lịch sử, các cảng lớn của Việt Nam đều nằm gần các thành phố lớn và ở sâu phía trong khu vực cửa sông - nơi chịu ảnh hưởng bởi sa bồi và thủy triều. Chính  cho nên các tàu có trọng tải lớn có mớn nước sâu không thể  cập các hệ thống cảng này để bốc xếp hàng hóa. Diện tích chật hẹp của khu vực đô thị khiến việc mở rộng hệ thống kho bãi cũng như phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng  liên quan gặp nhiều khó khăn.  Phương tiện bốc dỡ và hệ thống kho hàng có năng lực hạn chế đã làm giảm tốc độ hàng hóa  thông qua cảng. Hệ thống phân phối hậu cần nội địa chưa phát triển, còn nghèo nàn và hoạt động kém hiệu quả, góp phần làm tăng tổng  tổn phí  vận chuyển  hàng hóa. Còn ít các dịch vụ liên quan đến cảng và  vận tải đường biển Việt Nam hiện giờ không có một cảng biển trung chuyển tầm cỡ khu vực, chính điều này khiến hàng hóa xuất khẩu đi thị trường Tây Âu và Bắc Mỹ phải trung chuyển ở các cảng Singapore và Malaysia, làm tăng  chi phí  vận chuyển  lên đến 20%.

Trong chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, kinh tế hàng hải đứng thứ hai và sau 2020 kinh tế hàng hải đứng đầu trong 5 lĩnh vực phát triển kinh tế biển. Để  thực hiện  được mục đích này, việc xây dựng hệ thống cảng biển đồng bộ đạt tiêu chuẩn khu vực và quốc tế, đáp ứng nhu cầu vận tải đường biển nội địa,  phối hợp chở thuê hàng hoá nước ngoài trên các tuyến vận chuyển đường biển xa là điều cần phải làm ngay từ bây giờ.

Để phát triển mà phát triển mạnh , Việt Nam cũng phải giải quyết nạn ô nhiễm biển do vận tải đường biển mang lại. Ô nhiễm của hoạt động hàng hải và công nghiệp đóng tàu gây ra  chủ yếu  là ô nhiễm nguồn nước do dầu và ô nhiễm trầm tích do lắng đọng các kim loại nặng. Tỷ lệ ô nhiễm biển ven bờ do dầu từ hoạt động hàng hải chiếm khoảng 48% do các tàu không có két chứa dầu bẩn, 35% do các sự cố đâm và 13% do sự cố tràn dầu. Quy trình đóng mới tàu sẽ thải ra những  kim loại nặng . Bên cạnh đó, hàng trăm  tàu bè ra vào cảng mỗi tháng, lượng nước tại các cảng biển Việt Nam bị đục, gây ảnh hưởng tiêu cực đến các sinh vật sống gần bờ và cả sức khỏe cho người dân tại khu vực đó.

Để  thực hiện được chiến lược kinh tế biển năm 2020, đảm bảo  kinh tế-chính trị-xã hội Việt Nam phát triển  bền vững  chúng ta phải có những hành động ngay từ bây giờ .Đây không chỉ là nhiệm vụ của nhà nước  mà mỗi người dân đặc biệt là cư dân ven biển đều phải nâng cao   tinh thần nghĩa vụ đối với bảo vệ môi trường.